Home » Cổ truyền, Nổi bật, Tiêu biểu sideshow, Văn hóa » Điểm lại những lần quân Việt tiến đánh sang Trung Quốc nhằm bảo vệ giang sơn (phần 1)

Trong lịch sử gìn gữ giang sơn của mình, lịch sử cũng ghi nhận nhiều lần quân Việt tiến binh sang Trung Quốc. Nhưng khác với các cuộc xâm lược của Trung Quốc, các cuộc tiến binh của quân Việt đa phần là nhằm tiêu diệt bớt binh lực Trung Quốc, thể hiện sức mạnh rồi lại rút về.

Sau ngàn năm bị đô hộ bắc thuộc, chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán năm 938 mở ra thời kỳ mới cho dân Việt, thời kỳ tự chủ. Người Việt không chỉ chiến thắng các cuộc xâm lược từ phương bắc, mà còn đem quân bắc tiến, tiêu diệt sinh lực và ý định xâm lược của người Hán, thể hiện sức mạnh của mình rồi rút về.

Bạch Đằng

Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán mở ra thời kỳ tự chủ cho dân tộc. Ảnh internet

1/ Những đợt tiến binh đánh Tống của vua Lê Đại Hành

Năm 996 hơn 100 chiến thuyền của Đại Cồ Việt vượt biên giới nước Tống đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châm Châu, Vua Tống được tin không những làm lơ mà còn sai sứ giả là Lý Nhược Chiếu mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho vua Lê Đại Hành.

Cũng 996, quân Đại Cồ Việt tiến đánh Ung Châu của nhà Tống, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép rằng: “Mùa hạ năm ấy, châu Tô Mậu nước ta lại đem 5 nghìn hương bình xâm lược Ung Châu nước Tống

Lê Đại Hành

Minh họa vua Lê Đại Hành. Ảnh internet

(Xem bài: Vị vua Việt dám tiến đánh Trung Quốc, không bị khiển trách mà còn nhận được đai ngọc)

2/ Những đợt tấn công sáng đất Tống của nhà Lý

Năm 1022 Lý Thái Tổ sai Dực Thánh Vương đưa quân đánh giặc Đại Nguyên Dich quấy phá ở biên giới, rồi đuổi theo vào sâu trong đất nhà Tống, đến trấn Như Hồng, quân nhà Lý phá hủy kho tàng rồi rút về.

Nùng Trí Cao tiến đánh Tống

Năm 1052 thủ lĩnh người Tày, Nùng vùng Cao Bằng là Nùng Trí Cao đem quân sang đánh nhà Tống. Được sự hậu thuẫn của các thủ lĩnh người Thái – Tày ở Quảng Tây là Nùng Trí Trung, Nùng Kiến Hậu, quân của Nùng Trí Cao tiến đánh và chiếm được 8 châu thuộc Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.

Chân dung giả tưởng Nùng Trí Cao. Ảnh wikipedia.org

Chân dung giả tưởng Nùng Trí Cao. Ảnh wikipedia.org

Vua Đại Cồ Việt là Lý Thái Tông dâng biểu xin mang quân giúp Tống Đánh Nùng Trí Cao, tuy nhiên danh tướng nhà Tống là Địch Thanh can vua Tống, cho rằng Đại Cồ Việt đưa quân sang sẽ phối hợp với Nùng Trí Cao đánh Tống thì sẽ rất nguy hiểm.

Vua Tống nghe lời, không dám để quân Việt giúp, sai các tướng Dư Tĩnh và Tôn Miện đi đánh Nùng Trí Cao, nhưng đánh mãi mà không thắng được. Năm 1053 danh tướng Địch Thanh xin đi đánh.

Địch Thanh quyết định dùng “Nhẫn” để đánh, lệnh không ai được phép ra quân , các quân đều chỉ phòng thủ nghiên ngặt.

Quan Kiểm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh đem quân đi đánh bị thua, Địch Thanh đem chém đi, rồi lệnh cho quân sĩ nghỉ ngơi 10 ngày, quân sĩ được nghỉ ngơi thoải mái không tha thiết đánh trận nữa.

Quân do thám báo tình hình cho Nùng Trí Cao biết, ông cho rằng quân Tống thua nhiều trận đã chán nản, muốn nghỉ ngơi không tham chiến, nên chủ quan không phòng bị.

Lúc này Địch Thanh mới bất ngờ đem toàn quân tiến đánh, kỵ binh hai bên tả hữu áp lại, khiến quân Nùng Trí Cao đại bại.

Vua Lý Thánh Tông tiến binh sang Tống

Sau sự việt này quan hệ hai nước Tống – Việt căng thẳng, năm 1054 vua Lý Thánh Tông lên ngôi đổi tên nước thành Đại Việt. Vua Tống muốn đánh Đại Việt, vua Lý Thánh Tông chọn cách ngoại giao mềm dẻo, mang cả thú lạ dâng cống cho Tống để thăm dò thái độ, vua Tống không nhận lễ vật và cho tướng Tiêu Chú mang quân quấy phá biên giới với Đại Việt.

Trước sự tình này vua Lý Thánh Tông đã cho quân chống trả rồi vượt biên giới đánh sang đất Tống, sự kiện này Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi lại rằng: “đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc”.

Tranh minh họa từ internet

Tranh minh họa từ internet

Học giả Hoàng Xuân Hãn tìm các sách sử của Trung Quốc có ghi chép lại rằng: vua Lý đã chiếm các động Cổ Vạn, Tư Lẩm và Chiêm Lăng, giết quan nhà Tống là Lý Duy Tân, bắt nhiều quân Tống nhưng vẫn không lui binh. Vua Tống và các quan lộ Quảng Tây phải ra dụ cấm Tiêu Chú gây sự với Đại Việt, rồi vua Lý mới rút quân về.

Thế nhưng khi quân Việt rút về, xung đột biên giới lại nổ ra, một số dân Việt bị bắt mang về Tống nhưng trốn thoát ở châu Tây Bình của nhà Tống, nhưng viên quan ở đây không trả người mà tìm cách dấu đi số dân này.

Vua Lê Thánh Tông sai phò mã Châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đem quân từ động Giáp sang đòi người lại, nhưng quân Tống do Tống Sĩ Nghiêu không chịu trả người mà đánh lại, Thân Thiệu Thái đưa quân rút về động Giáp, Tống Sĩ Nghiêu đuổi theo qua biên giới đánh thẳng vào động Giáp nhưng bị quân Đại Việt đánh bại.

Năm 1060 vua Lý Thánh Tông sai Thân Thiệu Thái đánh sang tống để lấy lại người, quân Đại Việt lần này chủ động dàn quân tiến sang và đánh bại quân Tống, tướng chỉ huy quân Tống là Tống Sĩ Nghiêu cùng 4 tướng thuộc hạ bị tử trận.

Quân Tống ở Tây Bình không chống nổi, chiếm được Tây Bình, quân Đại Việt thừa thắng tiến tới Ung Châu và tấn công trại Vĩnh Bình, quân Tống đại bại, chỉ huy sứ Dương Bảo Tài cùng nhiều quân bị bắt.

Vua Tống sai Thị lang Bộ Lại là Dư Tĩnh tung quân lộ Quảng Nam Tây phản công nhưng lại thất bại.

Sau một loạt các thất bại ở biên giới, vua Tống sa thải các tướng chuyên quấy rối biên giới với Đại Việt như Tiêu Cố, Tiêu Chú, rồi sai Dư Tĩnh sang Đại Việt để nghị hòa, mong quân Việt rút về nước và hứa sẽ không xâm phạm biên giới nữa.

Đại Việt đồng ý nghị hòa và rút quân về nước, nhưng không đồng ý trao trả tướng Dương Bảo Tài cùng nhiều quân Tống đã bị bắt, điều này nhằm răn đe các tướng Tống khác đang giữ quân ở biên giới.

Trận đánh nổi tiếng sử Việt và Trung Quốc: Lý Thường Kiệt tiến đánh Ung Châu

Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, vua Lý Nhân Tông lên ngôi mới 7 tuổi, nhà Tống nhân cơ hội này muốn thôn tính Đại Việt

Năm 1073 nhà Tống chuẩn bị quân sang xâm chiếm Đại Việt, lập căn cứ luyện tập binh mã, chuẩn bị quân lương ở Ung Châu, quân số ở đây là 10 vạn. Chuẩn bị huy động thêm 45.000 cấm binh thiện chiến từ phương bắc xuống làm quân chủ lực.

Quân Đại Việt biết được tình hình chuẩn bị của Tống, Thái hậu Ỷ Lan quyết định phải đưa quân tiến sang đất Tống đánh trước, Thái hậu bàn với Thái úy Lý Thường Kiệt và giao cho ông chỉ huy việc tiến công này, đưa quân đánh Ung Châu nhằm tiêu diệt bớt quân lương và nhuệ khí của Tống. 10 vạn quân binh bao gồm quân triều đình và quân của thủ lĩnh các dân tục thiểu số miền biên giới được huy động để chuẩn bị tiến đánh.

Lý Thường Kiệt

Tượng Lý Thường Kiệt tại Đại Nam quốc tự (nguồn internet)

Quân Đại Việt chi làm 2 cánh: Phía đông do Lý Thường Kiệt chỉ huy quân triều đình  từ Móng Cái từ theo 2 đường thủy bộ tiến đánh Khâm Châu của Tống (tỉnh Quảng Tây ngày nay).

Phía tây quân của thủ lĩnh dân tộc thiểu số do Nùng Tông Đản chỉ huy chia làm 4 mũi tiến đánh đến Ung Châu

Quân hướng tây có nhiệm vụ nghi binh thu hút quân Tống để quân hướng tây bất ngờ tập kích.

Khâm Châu

Vị trí Khâm Châu tại Quảng Tây. Ảnh wikipedia.org

Ung Châu

Vị trí Ung Châu (Nam Ninh ngày nay). Ảnh wikipedia.org

Tháng 10/1075 quân phía tây của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số tiến đánh trước lần lượt chiếm các trại Cổ Vạn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, cùng các châu Lộc, Tây Bình.

Quân Tống bị hút sang phía tây, quân triều đình do Lý Thường Kiệt chỉ huy bất ngờ đánh thẳng vào Khâm Châu, quân Tống hoàn toàn bị bất ngờ không chống đỡ nổi. Các tướng giữ thành của Tống đều bị bắt hoặc bị tiêu diệt.

Thừa thắng quân Đại Việt đánh tiếp vào Liêm Châu, quân Tống đại bại. Sau đó cánh quân Việt chiếm được Khâm Châu tiến đánh Ung Châu, cánh quân chiếm được Liêm Châu tiến đánh Bạch Châu.

Hai cánh quân đông tây của Bách Việt hợp sức đi sâu vào đất Tống đánh thẳng vào Ung Châu, trên đường tiến quân Lý Thường Kiệt viết “phạt Tống lộ bố văn” để dán và phát cho dân Tống nêu rõ mục đính tiến binh là chính nghĩa nhằm tiêu diệt quân lương của Tống chuẩn bị đánh Đại Việt, xong sẽ lui binh.

Học giả Hoàng Xuân Hãn tìm hiểu từ sách sử Trung Quốc có ghi rằng: Dân Tống hiểu rõ mục đích tiến quân cũng vui mừng đồng tình, còn mang cả rượu thịt ra thết đãi quân Việt. Dân tống thấy cờ hiệu quân nhà Lý đến thì cùng nhau bày án bái phục trên đường, từ đó uy danh quân Việt lan rất nhanh.

Tin dữ lan truyền đến kinh thành khiến vua Tống lo lắng, lệnh cố gắng di chuyển tiền, vải vóc, lương thực để tránh khỏi bị rơi vào tay quân Đại Việt, đồng thời đưa binh đến ứng cứu

Tháng 1/1076 Lý Thường Kiệt cho quân bao vây kín thành Ung Châu, tướng giữ thành là Tô Giám cố thủ chờ viện bình.

Lý Thường Kiệt cho quân công thành, nhiều tướng tâu với vua Tống rằng thành Ung Châu rất kiên cố với thành cao, hào sâu có thể trụ được. Quan giữ thành là Tô Giám cùng quân binh liều chết giữ thành,

Ban đầu quân Việt dùng máy bắn đá bắn vào thành khiến quân Tống thiệt hại nhiều, sau đó dùng thang vân thê (thang lắp trên xe đẩy) trèo lên tường thành, quân Tống trên thành dùng đuốc và hỏa tiễn đốt thang khiến quân Việt không leo lên thành được.

Thang Vân Thê

Thang Vân Thê dùng để đánh thành của quân Đại Việt. Ảnh kienthucmoi.edu.vn

Tô Giám cho 100 quân cảm tử tinh nhuệ chèo thuyền nhỏ men theo sông Ung Giang tập kích bất ngờ khiến quân Đại Việt có 2 tướng cùng 10 voi chiến tử trận, 100 quân cảm tử của Tống cũng thiệt mạng.

Quân Việt dùng tên có tẩm thuốc độc nhắm lên thành mà bắn khiến quân Tống trên mặt thành chết nhiều. Quân Tống dùng nỏ Thần Tý (một loại nỏ bắn cũng lúc được nhiều mũi tên với sức công phá lớn) để bắn trả khiến quân Đại Việt thương vong nhiều.

Quân Đại Việt không giáp chiến được, lại lui ra xa dùng máy bắn đá bắn vào thành, bao vây không cho quân trong thành Ung Châu ra ngoài thành lấy nước.

Quân Tống ở Quế Châu đến giải nguy cho Ung Châu,  Trương Thủ Tiết thấy khí thế quân nam nên không dám sang ngay mà dẫn quân đi đường vòng từ Quế Châu tới Tân Châu, đóng quân ở trại Khang Hòa theo dõi động tĩnh, chuẩn bị tiến quân sang đường vòng nhằm gây bất ngờ.

Lý Thường Kiệt đã tính trước nên cẩn thận cho quân do thám viện binh Tống, khi quân do thám báo có viện binh đang kéo đến, Lý Thường Kiệt chia quân mai phục ở nơi rất hiểm trở là ải Côn Lôn. Viện binh nhà Tống đến ải Côn Lôn thì bị quân mai phục của Đại Việt tiến đánh úp, quân Tống thua to, Trương Thủ Tiết bị chém ngay giữa trận tiền, các tướng Tống đều bị tử trận.

Quân Đại Việt dùng máy bắn đá và hỏa tiễn bắn vào khiến thành bốc cháy, nhưng tường thành Ung Châu vững chắc, máy bắn đá không phá hủy được

Quân Tống dựa vào thành cao và chắc khiến quân Đại Việt công phá 40 ngày vẫn chưa hạ được. Cuối cùng Lý Thường Kiệt cho quân mang bao đất đắp dưới chân thành cho cao lên đến tới mặt thành thì quân Việt đi theo bao đất tràn vào thành, quân Tống bại trận.

Sau 42 ngày công phá quân Đại Việt mới chiếm được Ung Châu, thiệt hại 15.000 quân. Chiếm được Ung Châu. Lý Thường Kiêt cho quân phá hết các kho tàng lương thảo, cùng quân nhu của Tống, dùng đá lấp sông Ung Giang, một tuyến đường thủy huyết mạch quan trọng.

Để đánh lạc hướng quân Tống khi rút về nước, tránh bị đuổi theo, Lý Thường Kiệt phao tin đang chuẩn bị quân tiến đánh Tân Châu, quan giữ Tân Châu là Cổ Cắn Lạc nghe tin sợ hãi bỏ thành mà chạy. Tháng 3/1076 Lý Thường Kiệt cho quân rút về.

Sau cuộc chiến này quân tướng nhà Tống mất hết tinh thần, quân lương bị thiệt hại, không còn lực mạnh mà đánh Đại Việt nữa. Vì thế mà khi vua Tống tiến đánh Đại Việt nhằm phục thù thì lại tiếp tục bại trận phải rút quân về nước.

(Còn nữa)

Trần Hưng

Theo trithucvn.net

Chuyên đề:

Chưa có ý kiến... bạn sẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến!

Ý kiến bạn đọc