Home » Tiêu biểu sideshow, Văn hóa » Vén bụi mù lịch sử – P1: “Dụng binh yếu chỉ” khiến 10 đại tướng cùng 45 vạn quân Hán tử trận, chấn động Trung Nguyên

Một cuốn sách cổ là “dụng binh yếu chỉ” xuất hiện từ thời Lĩnh Nam đã giúp các nữ tướng Lĩnh Nam nhiều lần đánh bại quân Hán, 10 đại tướng cùng 45 vạn quân tử trận, chấn động Trung Nguyên.

Không chỉ thế, theo chiều dài lịch sử, cuốn sách này được các anh hùng sau này sử dụng để làm nên những chiến công vang dội bảo vệ Giang Sơn.

Dù đây là cuốn sách rất nổi tiếng trước đây, được nhiều sử liệu nhắc đến, thế nhưng các sách sử còn đến ngày nay lại không hề nhắc còn nhắc đến cuốn sách này.

Chúng ta hãy cùng vén đi lớp bụi lịch sử 2.000 năm qua, trở lại cội nguồn ra đời của cuốn sách, cùng xem lại những trận đánh lừng danh sử sách trải dài suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

Thiên tài chắp bút “dụng binh yếu chỉ”

Theo dân gian lưu truyền, Thánh Thiên vốn là dòng dõi Lạc tướng thời Thục vương. Thuở nhỏ đã thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười. Năm lên 9 tuổi tam phần, ngũ điển, lục thao, tam lược đều nắm được. Năm 12 tuổi đã có tài văn chương, thông thạo võ thuật.

Là dòng dõi Lạc tướng, nhưng Thánh Thiên không chỉ học võ thuật, mà còn giỏi chữ nghĩa, ham mê tìm hiểu binh pháp. Những cuốn sách khiến Thánh Thiên say mê nghiên cứu là:

  • “Lục thao” của Khương Tử Nha, đây là cuốn sách về luyện quân, chiến lược, chính lược.
  • Cuốn “Việt tộc binh pháp” không rõ tác giả, có thể là của Phương chính Hầu Trần Tự Minh, ông tổ của dòng họ Trần, người chỉ huy quân đội dưới thời vua An Dương Vương.
  • “Tôn Tử binh pháp” của Tôn Tử.
  • “Tôn Ngô binh pháp” từ binh thư của Tôn Tử và Ngô Khởi ghép lại mà thành
Binh pháp Tôn Tử

Tôn Tử binh pháp. (Ảnh từ internet)

Khi Thánh Thiên dựng cờ khởi nghĩa, sau nhiều trận giao tranh với quân Hán, nhận thấy “Tôn Tử binh pháp” và “Tôn Ngô binh pháp” không phù hợp với khí hậu, địa thế Lĩnh Nam. Thánh Thiên đã dùng sở học cùng kinh nghiệm của mình, tham chiếu sách xưa để soạn ra cuốn “dụng binh yếu chỉ” gồm 36 thiên.

Dùng “dụng binh yếu chỉ” được phong “Bình Ngô Đại tướng quân”

Cuối năm 39 sau công nguyên Hai Bà Trưng hiệu triệu tất cả các thủ lĩnh cùng quy tụ về. Thánh Thiên cũng như hàng chục các thủ lĩnh khác kéo quân về dưới cờ của Hai Bà Trưng.

Năm 40 sau công nguyên, Hai Bà Trưng xuất quân. Đại hội quân sĩ được tổ chức tại Hát Môn, Trưng Trắc lập đàn tráng, cáo lễ với trời đất, tự xưng là Trưng Nữ Vương, rồi chia quân tiến đánh các nơi.

Thánh Thiên nhờ có “dụng binh yếu chỉ” của mình mà đánh đâu thắng đó, đuổi sạch quân Hán khỏi Giang Sơn, lập được công lớn.

Sau khi giành lại Giang Sơn, Thánh Thiên đã chia sẻ “dụng binh yếu chỉ” của mình cho các tướng, cũng là dùng để thao dợt binh mã chuẩn bị cho các cuộc chiến sau này.

Nhờ đó Thánh Thiên được vua Trưng tin tưởng trao ấn “Bình Ngô Đại tướng quân” tức thống lĩnh toàn bộ quân Lĩnh Nam. Thánh Thiên cắt cử các tướng trấn giữ các nơi, sẵn sàng đánh trả nếu quân Hán lại xâm phạm bờ cõi.

Binh thư

Thánh Thiên nghiên cứu binh thư. (Ảnh từ internet)

Trận hồ Động Đình chấn động Trung Nguyên

Đầu năm 42 sau công nguyên vua Hán là Quang Vũ sai Mã Viện cùng phó tướng Lưu Long, Đòan Chí thống lĩnh 30 vạn đại quân tiến đánh Lĩnh Nam. Mã Viện cho quân tiến đánh hồ Động Đình do tướng quân Phật Nguyệt giữ.

Nữ tướng Phật Nguyệt dùng “dụng binh yếu chỉ” bày trận nhiều lần đánh bại quân Hán, khiến thây chất thành gò cao nghẽn cả sông Trường Giang.

Tại thư viện bảo tồn di tích cổ ở tỉnh Hồ Nam (Đây là tỉnh thủ phủ phía nam hồ Động Đình  Trung Quốc) có ghi chép trận đánh hồ Động Đình  như sau: “Quang Vũ nhà Hán sai Phục ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện. Long nhượng tướng quân Thận hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng Đình. Mã Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga Mi, một tay nhổ núi Thái Sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường Giang, hồ Ðộng Đình, oán khí bốc lên tới trời”.

Bản đồ Lĩnh Nam

Bản đồ nước Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng cho thấy biên giới tới tận hồ Động Đình. (Ảnh: Wikipedia)

Nhận thấy các chiến thuyền của mình to lớn hơn quân Lĩnh Nam, sẽ có lợi thế nào tham chiến trên biển, Mã Viện quyết định hợp quân ở Hợp Phố, nhằm tận dụng đường biển đánh vào quận Giao Chỉ. Tuy nhiên tại Hợp Phố “Bình Ngô Đại tướng quân” Thánh Thiên đã chờ sẵn.

Trận Hợp Phố – Nam Hải nổi danh sử xưa

Cùng với trận chiến hồ Động Đình, trận chiến Hợp Phố là trận đánh nổi tiếng trong sử Việt trước đây. Mã viện 3,4 trận cho toàn quân công thành nhưng đều thảm bại. Không chỉ thế với “dụng binh yếu chỉ” của mình, Thánh Thiên cho quân vượt thành bày trận nhiều lần đánh tan tan quân Mã Viện, khiến vị tướng này phải dâng biểu về Triều đình xin thêm quân tinh nhuệ và than thở rằng: “Nam bang có nữ tướng Thánh Thiên dụng binh như thần, trí dũng thiên phương, không sao phục được. Xin bệ hạ phái thêm các tướng giỏi và tiếp thêm quân sĩ sang giúp sức”. 

Không chiếm được Hợp Phố, nhưng quân Hán muốn tiến vào Giao Chỉ (nơi có vua Trưng) bằng đường biển nhằm tận dụng các chiến thuyền lớn của mình. Nên Mã Viện và Lưu Long cho quân đánh chiến vùng biển ở Nam Hải.

Thế nhưng vùng Nam Hải được được trấn thủ bởi nữ tướng Gia Hưng Trần Quốc, đặt dưới sự chỉ huy của Đại tướng Thánh Thiên.

Cùng với trận trận Động Đình, trận Hợp Phố, trận đánh ở biển Nam Hải rất nổi tiếng trong sử xưa, vang dội mãi đến tận 1.400 năm đến thời nhà Trần.

Nữ tướng Gia Hưng Trần Quốc sử dụng “dụng binh yếu chỉ” dàn quân trên biển (ngày nay theo ghi chép từ dân gian truyền lại thì nữ tướng Trần Quốc được viết là “Nàng Quốc”).

Chiến thuyền quân Hán do tướng Đoàn Chí nườm nượp tiến vào. Quân Hán 6 lần tiến quân, nhưng nữ tướng Trần Quốc sử dụng thế trận tài tình biến hóa khôn lường 6 lần đánh lui đại quân nhà Hán, đánh nhiều trận khiến quân tướng nhà Hán thất kinh.

Thậm chí tướng giỏi như Đoàn Chí cũng phải bỏ mạng nơi vùng biển Nam Hải, thủy binh quân Hán bị thiệt hại vô số. Mã Viện thất kinh không còn dám nghĩ đến việc đánh vùng biển Nam Hải nữa.

Vì sao dù thắng trận, nhưng Mã Viện lại xem là không lập công?

Để tiến tiến được vài Giao Chỉ đánh vua Trưng nhằm kết thúc cuộc chiến. Mã Viện quyết định tránh đối đầu với các tướng Lĩnh Nam, mà theo đường tắt bí mật tiến quân, chia quân làm 2 cánh thủy bộ, cánh quân bộ  tiến chiếm Thương Ngô rồi cho quân đi ngầm qua Quỷ Môn quan (ải Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay) lẻn xuống vùng Lục Đầu rồi tiến ngược lên Lãng Bạc, cánh quân thủy bí mật xuống các chiến thuyền lớn ở Hợp Phố rồi theo đường biển đến Lãng Bạc. Hai cánh quân thủy bộ của quân Hán hội tại Lãnh Bạc (thuộc Tiên Du ngày nay).  

Dù đánh thắng được quân Hai Bà Trưng nhưng quân Hán bị thiệt hại to lớn, ít nhất 45 vạn quân bị tử trận.

Trong số 12 đại tướng quân đánh Lĩnh Nam thì chỉ có chủ tướng Mã Viện và phó tướng Lưu Long là thoát chết, 10 đại tướng quân còn lại đều bị tử trận, đó là:

1. Nam an hầu Đoàn Chí
2. Chinh tây đại tướng quân Chu Long.
3.  Chinh nam đại tướng quân Trịnh Sư.
4.  Uy viễn đại tướng quân Ngô Anh.
5.  Trấn uy đại tướng quân Vương Hùng.
6,  Long nhượng đại tướng quân Sầm Anh.
7.  Chinh di đại tướng quân Phùng Đức.

8.  Hổ nha đại tướng quân Mã Anh.
9.  Trấn viễn đại tướng quân Mã Huống.
10. Bình man đại tướng quân Mã Dư.

Đây đều là những danh tướng bậc nhất lập rất nhiều chiến công cho nhà Hán, trong đó nổi bật là Đoàn Chí, Phùng Đức, Sầm Anh.

Năm 49 sau công nguyên Mã Viện đưa quân đi đánh dẹp các bộ lạc Ô Hoàn ở quận Vũ Lăng (nay là tỉnh Qúy Châu và Hồ Nam của Trung Quốc), bị bệnh truyền nhiễm và chết.

Sau khi Mã Viện chết một số tướng lĩnh có lời buộc tội Mã Viện, trong đó Phò mã Lương Tùng tâu với vua Hán Quang Vũ rằng: “…Trận Động Đình hồ bị Phật Nguyệt đánh tan ba mươi vạn quân. Trận Nam Hải bị Thánh Thiên giết bốn mươi vạn. Phụ hoàng sai y đánh Lĩnh Nam, làm thiệt bốn mươi vạn quân, các đại tướng danh tiếng Phùng Đức, Sầm Anh, Liêu Đông Tứ Vương chết …”

Lời tâu của Phò mã Lương Tùng phần nào nói lên thiệt hại to lớn của quân Hán khi đánh Lĩnh Nam.

Cùng một số một số lời tấu về việc Mã Viện đã tự ý lấy ngọc trai và sừng tê giác mà không mang về Kinh đô. Nghe những lời buộc tội này, vua Hán là Quang Vũ đã tước đi Thái ấp cũng như tước Hầu của Mã Viện, mà nguyên nhân chính là Mã Viện dù thắng được Hai Bà Trưng nhưng bị mất 10 đại tướng và 45 vạn quân thì không thể xem là lập công được, thậm chí tội còn lớn hơn công

Sau khi Thánh Thiên mất, cuốn “dụng binh yếu chỉ” vẫn được lưu truyền trong người Việt, sau này trở thành bí kíp giúp những anh hùng bảo vệ Giang Sơn.

(còn nữa)

Theo trithucvn.net

Bài liên quan:

>> Lãnh thổ nước Việt xưa kia lớn gấp 10 lần ngày nay

Chuyên đề:

Chưa có ý kiến... bạn sẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến!

Ý kiến bạn đọc