Home » Thế giới, Tiêu Điểm » Thế nào là “làm chính trị”
Ở Trung Quốc mỗi khi một ai đó nói lên quan điểm hay suy nghĩ mà không có lợi cho chính quyền, thì thường bị xem là “làm chính trị”

Vậy thế nào là “làm chính trị”, câu nói này hình thành từ đâu và có ý nghĩa như thế nào? Đây là ngôn từ được hình thành từ các cuộc vận động chính trị của Trung Quốc, vậy chúng ta thử lật lại lịch sử xem ngôn từ này được hình thành thế nào.

Cuộc vận động chống cánh hữu vào năm 1957

Năm 1957 Mao Trạch Đông phát hiện giai cấp trí thức, có học trong xã hội có những tư tưởng đổi mới tiến bộ, điều này gây bất lợi cho quyền lực của Đảng, vì để đảm bảo quyền lực trong tay mình và quyền lực của đảng, liền thực hiện kế hoạch “dụ rắn ra khỏi hang”.

Mao Trạch Đông đưa ra danh nghĩa “tự do tư tưởng” và “chỉnh đốn đảng” nhằm khuyến khích mọi người thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình. Phong trào này được phổ biến ở tất cả các cấp, ban ngành và trường học  ở Trung Quốc.

Mao Trạch Đông “vô cùng thành khẩn” động viên các phần tử trí thức “giúp đảng cộng sản chỉnh đốn”. Nhiều người đã thành tâm nói rõ ý kiến của mình nhằm xây dựng Đảng được trong sạch và phát triển, tất cả các ý kiến đóng góp đều được ghi nhận. Nhưng sau đó những người đề xuất các ý kiến của mình bị liệt vào nhóm cánh hữu.

ĐCS Trung Quốc khởi xướng cuộc đấu tranh chống cánh hữu, hơn 2 triệu người bị giữ, 540 ngàn người được khuyến khích nêu ý kiến được xem là phần tử cánh hữu, bị chụp mũ cho là “làm chính trị”.

Kết quả 270 ngàn người bị mất việc làm, 230 nghìn người đã bị dán nhãn là “phần tử trung hữu” hoặc “phần tử chống Đảng, chống xã hội chủ nghĩa”. Nhiều người quy cho là ‘phản động’, ‘làm chính trị’ bị đày 30 năm đến những nơi xa xôi của đất nước, nhiều người khác bị tù đày, có người phẫn uất cùng đường mà tự tử.

Nhiều nông trường “cải tạo phần tử cánh hữu” mọc lên, và sau đó thảm án xảy ra ở các nông trường này. Ví như nông trường ở biên giới Cam Túc, 3000 người bị cải tạo thì chỉ có 400 người còn sống sót, thế nhưng ĐCS Trung Quốc vẫn không thừa nhận phần tử cánh hữu bị bức hại đến chết mà để bác sĩ bịa đặt 2.600 ca “tử vong vì bệnh”. Cuộc vận động chống cánh hữu đã đem tới thảm cảnh cho hàng triệu gia đình trí thức Trung Quốc trong mấy thập niên.

Đến khi bị người ta phê phán tại sao lại dùng “âm mưu” như thế, thì Mao Trạch Đông nói thẳng: “Không phải âm mưu, mà là ‘dương’ mưu — làm công khai đấy chứ.”

Đặc biệt sự việc này ăn sâu vào tư tưởng người Trung Quốc trong suốt mấy chục năm liền, khiến ai phát biểu ý kiến hay làm gì cũng để ý cẩn thận không lại bị chụp cho cái mũ là “phản động” hay “làm chính trị”.

Mặt khác các quan chức, cán bộ của ĐCS cũng hình thành tư duy bất cứ một tư tưởng tiến bộ nào trái với tư tưởng của Đảng, hay ảnh hưởng tới quyền lực của Đảng liền nói ngay “anh đang làm chính trị à” hay “đó là tư tưởng phản động”. Người khác nghe nói vậy là bắt đầu sợ và không dám biểu đạt ý kiến của mình nữa.

Thế nhưng trong lịch sử Trung Quốc vẫn xuất hiện những người có nghĩa khí cất tiếng nói để bảo vệ người dân, vậy kết quả là thế nào.

Nạn đói trong “đại nhảy vọt” 1958 – 1961, thanh trừ Lưu Thiếu Kỳ

Từ năm 1958 đến 1960 Trung Quốc xuất khẩu một lượng nông sản sang Liên Xô để đổi lấy công nghiệp hóa mau chóng trong quân sự. Xuất khẩu lương thực của Trung Quốc trong những năm này lên tới đỉnh điểm, trong đó chỉ riêng năm 1959, Trung Quốc xuất khẩu tới 4,2 triệu tấn lương thực, gấp 2 lần lượng lương thực xuất khẩu trong năm được mùa 1957.

vu khi

Ảnh internet

Chính quyền đã tước đoạt khẩu phần ăn người dân để xuất khẩu sang Liên Xô, khiến từ 1958 đến 1961 có 40 triệu người Trung Quốc chết đói. Sau này người ta khám phá trong tác phẩm «Mao Trạch Đông: Những câu chuyện ít biết» thì Ngày 15 tháng 10 năm 1957, Liên Xô và ĐCSTQ đã ký kết «Hiệp định kỹ thuật quốc phòng mới» tại Moscow: Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc một mô hình bom nguyên tử. Các bộ của Liên Xô tiếp nhận chỉ thị: “Cung cấp cho phía Trung Quốc tất cả những thứ để họ có thể tự chế tạo bom nguyên tử.” Hàng loạt chuyên gia hỏa tiễn đã được điều động tới Trung Quốc. Chỉ để có bom nguyên tử, ĐCS Trung Quốc đã rắp tâm khiến hàng chục triệu người chết đói trong “phong trào đại nhảy vọt”.

Khi các nông dân bị đói quá nên phải cướp ngũ cốc ở các kho lương thực, ĐCSTrung Quốc đã ra lệnh bắn vào đám đông để trấn áp việc cướp thóc gạo và dán nhãn cho những người bị chết là các phần tử phản cách mạng

nan doi

Ảnh internet

Những người can đảm phản đối chính sách trưng thu lương thực, bảo vệ người dân đều bị chụp lên cái mũ “làm chính trị” rồi bãi chức, điều tra. Điển hình là Bành Đức Hoài bị chụp cho một cái mũ “phần tử cánh hữu” , “làm chính trị” rồi bị mất chức và bị đả đảo.

Năm 1959, trong Hội nghị lần thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 2, Lưu Thiếu Kỳ trúng cử Chủ tịch nước; khi ấy trên chính trường Trung Quốc xuất hiện 2 vị chủ tịch, một là Chủ tịch đảng Mao Trạch Đông, hai là Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ.

Trước cảnh tượng có hàng chục triệu người chết đói, cả nước bao trùm cảnh chết chóc tang thương. Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ đã bị thảm cảnh này đánh thức lương tâm và cho rằng Trung Quốc không thể cứ tiếp tục thế này mãi được; ông nổi dũng khí phản đối chính sách sưu cao thuế nặng điên cuồng của Mao Trạch Đông đối với nhân dân.

Tháng 1 năm 1962, diễn ra “đại hội bảy ngàn người” là hội nghị quy mô lớn nhất của ĐCS Trung Quốc.

Trong đại hội này ban đầu các báo cáo đều ca ngợi “đại nhảy vọt”, ca ngợi Đảng quang vinh vĩ đại, hình thế toàn quốc đều tốt đẹp. Thế nhưng ông Lưu Thiếu Kỳ đã có lời phát biểu bác bỏ báo cáo mà đã được ĐCS Trung Quốc chuẩn bị kỹ càng và nói lên sự thật: Tình hình không tốt, “nhân dân không đủ ăn, thực phẩm không đủ, thịt, dầu, v.v. không đủ; mặc cũng không đủ, vải bị thiếu rất nhiều; cứ như vậy không được.” “Chúng ta lúc đầu cho rằng, về phương diện công nghiệp và nông nghiệp, mấy năm qua đều có đại nhảy vọt… thế nhưng hiện tại không những chẳng tiến lên, mà còn thụt lùi rất nhiều”. Lưu Thiếu Kỳ còn nói: “Nguyên nhân gây ra khó khăn là ‘ba phần thiên tai, bảy phần nhân họa’”.

Bài nói chuyện của Lưu Thiếu Kỳ đã khiến những người trong hội nghị đồng cảm từ tận trong tâm. Lưu Thiếu Kỳ nói xong, các cán bộ ĐCS Trung Quốc đều thi nhau nói lên suy nghĩ chân thực của mình, phản đối việc tiếp tục chính sách đại nhảy vọt. Âm thanh kịch liệt nổi hết đợi này đến đợt khác. Cuối cùng, Mao Trạch Đông bất đắc dĩ phải “tự phê bình”, bị buộc phải nhịn nhục trong năm 1962, hạ thấp chỉ tiêu trưng thu lương thực. Nạn đói lớn của Trung Quốc cuối cùng đã kết lúc, có thể thấy Mao Trạch Đông từ đó hận Lưu Thiếu Kỳ đến “nghiến răng nghiến lợi”.

Lưu Thiếu Kỳ. Ảnh wiki

Lưu Thiếu Kỳ. Ảnh wiki

Ngày 3 tháng 1 năm 1965, Lưu Thiếu Kỳ trúng cử Chủ tịch nước lần thứ 2. Khắp nơi trên toàn quốc, người ta tổ chức các hoạt động chào mừng, múa sư tử, đốt pháo, đồng thời trưng cả ảnh Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Báo chí viết: “Mao Chủ tịch, Lưu Chủ tịch đều là những lãnh đạo kính yêu nhất của chúng ta.”

Trung Quốc xuất hiện “hai mặt trời”, đây là điều khiến Mao Trạch Đông không sao chịu nổi; ông ta nhất định phải đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ, đồng thời để trả mối thù trong “đại hội bảy ngàn người”. Tuy nhiên lúc ấy uy tín của Lưu Thiếu Kỳ trong nội bộ đảng ngày một tăng, chỉ dựa vào lực lượng trong Đảng để đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ thì không phải là dễ; do đó Mao Trạch Đông đã phát động cái gọi là “cuộc vận động quần chúng” trong “đại cách mạng văn hóa”.

Tháng 10/1966 Mao Trạch Đông vận động Hồng vệ binh phê phán đường lối phản động của giai cấp tư sản. Phương thức là viết báo chữ lớn công kích, mở các hội nghị đấu tố, diễu phố.

Tất cả cán bộ trong Đảng không nghe theo lập tức bị chụp cho cái mũ “phản động” hay “làm chính trị” để đấu tố.

Ngày 25 tháng 12 năm 1966, Mao Trạch Đông đã tự mình chuẩn bị một món quà cho ngày sinh nhật 73 tuổi cho chính mình vào hôm sau. Mao chỉ thị cho 5 ngàn sinh viên tạo phản của đại học Thanh Hoa tiến hành tuần hành tại Bắc Kinh, rải truyền đơn, hô khẩu hiệu, chạy xe gắn loa công suất lớn hô: “Đả đảo Lưu Thiếu Kỳ!” Đây chính là đại hành động “25/12″ chấn động cả trong và ngoài nước; Mao Trạch Đông đã lợi dụng hồng vệ binh để đẩy khẩu hiệu “đả đảo Lưu Thiếu Kỳ” ra toàn xã hội.

Từ đó trở đi nhiều đại hội mở ra nhằm phê bình đấu tố Lưu Thiếu Kỳ. Ngày 1 tháng 4 năm 1967, «Nhân Dân Nhật báo» đăng một bài viết tuyên bố Lưu Thiếu Kỳ là phản động “kẻ đương quyền lớn nhất trong đảng đi theo con đường chủ nghĩa tư bản”, chụp cho ông ta cái mũ “làm chính trị”. trong ngày hôm ấy triệu tập đại hội 30 vạn người phê đấu vợ Lưu Thiếu Kỳ là Vương Quang Mỹ. Tháng 8 năm 1967, Trung Nam Hải mở một đại hội phê đấu Lưu Thiếu Kỳ, “Lưu Thiếu Kỳ bị đánh ngã xuống đất, lại bị hết người này tới người khác dẫm đạp lên”. Đại hội phê đấu được làm thành phim để Mao Trạch Đông thưởng thức; ông ta vui vẻ xem cảnh đối thủ của mình bị đánh đập và phê đấu. Năm 1969, Lưu Thiếu Kỳ bị ĐCS Trung Quốc bức hại đến chết trong nhà giam.

Đấu tố vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ. Ảnh internet

Đấu tố vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ. Ảnh internet

Trong các cuộc vận động chính trị tại Trung Quốc những nhân vật bị gán cho cái mũ “làm chính trị” này hầu hết đều có những tư tưởng đổi mới, vì dân vì nước mà cất tiếng nói của mình. Nhưng vì tư tưởng này đi ngược quyền lợi của Đảng hay quyền lợi của ai đó, vì vậy mà họ đều bị đấu tố và đánh đổ.

Cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn năm 4/6/1989

xe tang thien an mon

Năm 1989 ở kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, người dân đói khổ trong khi các quan chức ĐCS Trung Quốc tham nhũng không đếm xỉa gì người dân.  Tất cả các tiếng nói của giới trí thức hay sinh viên lúc đó đều bị dập tắt, dù xã hội có thế nào thì ĐCS vẫn luôn đánh bóng mình với ngôn từ “Đảng là quang vinh vĩ đại” và “không bao giờ sai”, điều này gây nên nhiều bất bình trong dân chúng.

Môt cuộc biểu tình đòi hỏi tự do dân chủ nổ ra ở Bắc Kinh, trong đó đa phần là sinh viên viên. Thế nhưng các cơ quan truyền thông đều quy kết các sinh viên biểu tình là các phần tử “bạo loạn” là “phản động” và “làm chính trị”. Thế là các sinh viên bỗng chốc trở thành các tội  phạm quốc gia, trở thành phần tử đối nghịch với với Đảng.

Chính quyền huy động 180.000 quân với xe tăng rầm rộ tiến vào thành phố để trấn áp cuộc biểu tình.

Những người lính đã bị ĐCS Trung Quốc thông báo rằng ở Bắc Kinh vừa có một cuộc bạo loạn nổ ra, nhiều người lính đã bị bắt cóc và giết chết. Quảng trường Thiên An Môn hiện đang bị chiếm giữ bởi những kẻ chủ trương “làm chính trị”, bạo loạn phản cách mạng và cần phải tiêu diệt chúng để bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.

Những người lính tin những điều này, họ tiến vào quảng trường Thiên An Môn và xả súng vào hàng ngàn người tay không tấc sắt, xe tăng nghiền nát tất cả các chướng ngại vật và sinh viên. họ không thể ngờ rằng hành động này mang lại nỗi ân hận và tội lỗi lớn nhất trong cuộc đời của họ và không sao gột rửa hết được.

Sau cuộc thảm sát những ai tham gia biểu tình đều bị ghi lý lịch, bị xem như những phần tử phản cách mạng khiến tương lai sự nghiệp coi như chấm hết với họ.

Giờ đây cứ đến ngày 4/6, đối với những người lính tham gia cuộc thảm sát năm xưa đã trở thành nỗi ân hận sâu sắc, những giọt nước mắt chảy dài trên gương mặt của họ khi nói về sự kiện này.

Đến tập luyện khí công cũng bị biến thành “làm chính trị”

Từ năm 1992 một môn khí công là Pháp Luân Công bắt đầu được phổ truyền tại Trung Quốc, đây là môn khí công với 5 bài công pháp (luyện mệnh), và sống theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn (luyện tâm tính) được dân chúng theo tập rất đông, đến năm 1999 ước tính có đến 100 triệu người theo tập.

Giang Trạch Dân vốn là người đã quen nghe người khác ca ngợi bản thân mình, nhưng lúc đó Giang Trạch Dân đi đâu cũng đều nghe nói về sự tốt đẹp về sức khỏe do tập Pháp Luân Công, đọc báo hay nghe tin ông ta đều nghe nhiều tấm gương người tốt việc tốt là các học viên Pháp Luân Công, điều này khiến sự đố kỵ của ông ta dâng cao.

Giang Trạch Dân cảm thấy tầm ảnh hưởng của ông ta đối với người dân Trung Quốc càng ngày càng giảm dần, trong khi ảnh hưởng của Pháp Luân Công đối với sức khỏe người dân ngày càng cao.

Giang Trạch Dân quyết định phải đàn áp Pháp Luân Công  bất chấp sự phản đối của 6 vị thường ủy trong Bộ Chính trị, cũng như các quan chức cấp cao khác như Thủ tướng Chu Dung Cơ, cựu Chủ tịch Quốc Hội Kiều Thạch.

Trước sự cấm đoán này, các học viên Pháp Luân Công quyết định phải đến Tung Nam Hải nói rõ cho chính quyền biết lợi ích do luyện tập môn khí công này mang lại, đó chính là tiền đề cho cuộc thỉnh nguyện ôn hòa ngày 25/4/1999, một học viên Pháp Luân Công tại Việt Nam miêu tả cuộc thỉnh nguyện này như sau:

TRUNG NAM HẢI NGÀY ẤY

… Nhưng các học viên tại Trung Quốc ai cũng hiểu tập Pháp luân công tốt thế, vì sao mà chính phủ từ chỗ rất ủng hộ khuyến khích phát triển lại quay ra cấm đoán người dân luyện tập. Vì thế một số người nêu ra ý kiến phải nói lên cho các nhà lãnh đạo Chính phủ biết, và thế là họ rủ nhau đến Trung nam hải. Có 10.000 học viên tại Trung Quốc đã đến Trung Nam Hải. Họ đến bằng các phương tiện khác nhau từ khắp các tỉnh thành cả nước đến , với mục đích chỉ nói với lãnh đạo Trung Quốc rằng Pháp luân công là tốt. Đám đông 10.000 người ấy hết sức ôn hòa, không có khẩu hiệu, không hô hào la ó, chỉ im lặng trong đội ngũ trật tự tiến đến Trung Nam Hải.

Cảnh sát được huy động tối đa nhằm kiểm soát đám đông này. Thủ tướng Chu Dung Cơ đã có mặt để giải quyết, ông yêu cầu được gặp người đại diện. Lúc này mọi người ai cũng nhìn nhau và bất ngờ không chuẩn bị trước, vì trong đó không có ai là người đại diện, không có ai là người lãnh đạo, không có ai tự đứng ra tổ chức cả, tất cả chỉ chung một tâm niệm nói rõ sự tốt lành mà mọi người có được nhờ tập Pháp Luân Công

Cuối cùng 1 người cảnh vệ của Thủ Tướng chỉ định 3 người gần đó vào giải quyết, và cuối cùng mọi việc đã tốt đẹp khi Thủ tướng Chu Dung Cơ tuyên bố không cấm tập luyện Pháp Luân Công trên toàn quốc.

Trong lúc chờ đợi được giải quyết đám đông ôn hòa đã tập 5 bài công pháp, đám cảnh sát nhàn nhã chẳng có việc gì phải làm cả, để giết thời gian một cách vô ích họ làm gì, hút thuốc, hút liên tục, và mẩu thuốc được vứt khắp nơi đầy đường.

Khi đám đông giải tán họ đã dọn dẹp sách sẽ tất cả mọi thứ trong thành phố nơi họ đi qua, tất cả các giấy tờ, được dọn sạch sẽ, cả những đầu mẩu thuốc lá mà cảnh sát vứt lại cũng được dọn dẹp thật gọn gàng. Đường phố sạch sẽ như trước đó chưa hề có cuộc thỉnh nguyện của 10.000 người. Trên đường trở về một số học viên đã bị cảnh sát bắt

Đoàn người trong đội ngũ trật tự ở Tung Nam Hải

Đoàn người trong đội ngũ trật tự ở Tung Nam Hải

Sau cuộc thỉnh nguyện ôn hòa này Giang Trạch Dân vu cho Pháp Luân Công “làm chính trị”, và ra lệnh đàn áp Pháp Luân Công

Ngày 20/7/1999 theo lệnh của Giang Trạch Dân tất cả các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí đang ca ngợi Pháp Luân Công bỗng quay ngược trở lại vu khống đả kích môn tập này để dọn đường cho Trang Trạch Dân đàn áp.

Sau đó Giang Trạch Dân và La Cán chỉ đạo dàn dựng việc học viên Pháp Luân Công tự thiêu trên quảng trường Thiên An Môn, nhằm lấy lý do đấy để gia tăng đàn áp. Thế nhưng truyền thông thế giới sớm phát hiện ra cảnh tự thiêu trên phim là do dàn dựng, bộ phim “lửa giả” đã vạch trần việc dàn dựng này. ((http://www.falsefire.com)

ĐCS tự đặt cho mình cao hơn hết thảy, cao hơn nhân dân, cao hơn nhà nước, cao hơn pháp luật. Nó sẵn sàng dùng quyền lực này để thanh trừ bất kỳ ai động đến Đảng, bằng cách chụp lên đầu họ một cái mũ nào đó, như ‘làm chính trị’ chẳng hạn.

Ai bị chụp lên cái mũ đấy thì bị mặc nhiên bị coi là đối lập với chính quyền, đối lập với Đảng, đối lập với nhân dân, và bị đả kích thậm tệ. Thậm chí nếu thấy ảnh hưởng đến quyền lực của chính quyền thì có thể bị bắt hoặc tử hình.

Ngày nay tác dụng của ngôn từ “làm chính trị” đối với ĐCS Trung Quốc thế nào?

Thế nhưng lịch sử trôi đi đến ngày nay, nhiều người đã hiểu được sự thật của những từ chụp mũ gán ghép này, nhất là những người trong giới trí thức.

Người ta cũng hiểu ra rất nhiều mâu thuẫn trong cách dùng từ của ĐCS Trung Quốc. Nếu ai đọc hay học hỏi được điều gì tốt muốn thay đổi hay cải cách nhưng không có lợi cho quyền lực của Đảng thì bị phán ngay là “lập trường quan điểm có vấn đề” hay “bản lĩnh chính trị không vững vàng”. Nhưng nếu có quan điểm, lập luận chính trị vững vàng thì lại bị chụp ngay cái mũ là “làm chính trị”.

Còn nếu đưa ra lập luận quan điểm có lợi cho quyền lực của Đảng thì lập tức được khen ngay là người có “bản lĩnh chính trị vững vàng” và dễ dàng được cất nhắc đến chức vụ cao hơn.

Mặc dù ĐCS Trung Quốc chế ra cái mũ khiếp đảm “làm chính trị” nhưng đất nước này lại có một Bộ gọi là “Bộ chính trị”, trong khi tát cả các nước văn minh tiến bộ trên thế giới đều không có Bộ này.

Tuy nhiên cũng có một lượng không ít người dân sống nơi vùng xa, không tiếp cận được với thông tin, còn chịu ảnh hưởng của những cuộc phát động đấu tố khủng khiếp trong lịch sử, trái tim họ vẫn nớp lo sợ bị chụp lên cái mũ “làm chính trị”.

Nhưng chính sách hà khắc của chính quyền Trung Quốc khiến người dân rơi vào cảnh lầm than, khiến người dân vì quyền sống mà họ không còn sợ nữa, ở Trung Quốc năm nào cũng có nhiều vụ người dân biểu tình để bảo vệ quyền lợi của mình, mà họ không còn sợ bị chụp cho cái mũ là “làm chính trị” nữa.

Và điều này khiến cho cái mũ “làm chính trị” của ĐCS Trung Quốc cũng dần dần không mang lại hiệu quả nữa, càng dùng nhiều thì người dân càng hiểu bản chất của việc chụp mũ gán ghép này.

Ngọn Hải Đăng

Theo daikynguyenvn.com


Chưa có ý kiến... bạn sẽ là người đầu tiên đưa ra ý kiến!

Ý kiến bạn đọc